Ngành giáo dục Quảng Ngãi sau 05 năm thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013

Lượt xem:


Trong thời gian qua, được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi; sự phối hợp có hiệu quả của các sở, ban, ngành, hội đoàn thể, tổ chức chính trị, của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, sự ủng hộ, chia sẻ của nhân dân, đặc biệt là sự tâm huyết, trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TWngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 29) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, nhiều thành tựu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh nhà đã được khẳng định:

Chất lượng giáo dục và đào tạo từng bước được củng cố và có bước phát triển vững chắc, toàn diện hơn. Tỷ lệ học sinh khá, giỏi, đạt hạnh kiểm tốt tăng hơn so với trước; tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng hằng năm tăng đáng kể; mạng lưới trường, lớp học được đầu tư cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em; đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên các cấp học từ mầm non đến giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên đã đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

Bên cạnh những thuận lợi, trong những năm qua, ngành giáo dục và đào tạo cũng đối mặt với nhiều khó khăn: Việc đầu tư cho giáo dục còn thấp so với nhu cầu, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy học còn thiếu, chưa đồng bộ; công tác quy hoạch mạng lưới trường, lớp học chưa sát với thực tiễn; một số giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục chưa bắt kịp yêu cầu đổi mới trong quản lý, đổi mới phương pháp dạy học; sự quan tâm cho giáo dục và đào tạo giữa các địa phương không đồng đều; một số hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách thực thi còn chậm so với hiệu lực thi hành của Nghị định, hoặc đã được ban hành nhưng không phù hợp với thực tế.

Phát huy những thuận lợi và khắc phục những khó khăn, ngành giáo dục và đào tạo đã tích cực, chủ động, nỗ lực triển khai thực hiện 09 nhóm nhiệm vụ, giải pháp theo tinh thần Nghị quyết 29; Chương trình hành động 51-CTr/TU của Tỉnh ủy, 04 Kết luận, 05 Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy khóa XIX có liên quan đến giáo dục và đào tạo, từng bước nâng cao chất lượng dạy và học.

Ngay từ năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết số 29, Sở Giáo dục và Đào tạo (sau đây gọi tắt là GDĐT) đã chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành tham mưu cho Thường trực Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân(UBND) tỉnh để ban hành các chương trình, kế hoạch. Tổ chức quán triệt trong toàn thể cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên các cơ sở giáo dục về tinh thần Nghị quyết 29 và triển khai thực hiện chương trình hành động, kế hoạch, đề án của tỉnh về đổi mới giáo dục và đào tạo.

1.Một số kết quả nổi bật

a) Đổi mới một số yếu tố cơ bản của giáo dục và đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực

Trên cơ sở thực hiện khung chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, Sở GDĐT đã hướng dẫn các đơn vị, cơ sở giáo dục tổ chức thực hiện theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; giao quyền cho Hiệu trưởng linh hoạt, bổ sung các nội dung giáo dục có tính tích hợp; đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tăng thời gian thực hành, trải nghiệm và vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống trong học sinh được chú trọng. Toàn ngành đã tích cực triển khai, thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, gắn với triển khai, thực hiện Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015 – 2020” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Các đơn vị, cơ sở giáo dục triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh trong các nhà trường, nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học.

Tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng ngoại ngữ của người học. Kết quả, học sinh đã có những tiến bộ rõ rệt về năng lực ngoại ngữ, năm học 2015-2016: có 85 học sinh đạt giải Olympic Tiếng Anh toàn quốc (lớp 5: 35, lớp 9: 16, lớp 11: 34), năm học 2016-2017: 30 học sinh đạt giải Olympic Tiếng Anh toàn quốc (01 nhất, 5 nhì, 06 ba và 18 khuyến khích).

Việc dạy tin học ở các nhà trường phổ thông được quan tâm hơn trước, 14/14 huyện, thành phố đã triển khai dạy Tin học cho tất cả các trường THCS trên địa bàn, số trường tiểu học dạy tin học đã tăng từ 5 trường đã lên 130 trường; tổng nguồn kinh phí thực hiện từ năm học 2013-2014 đến năm học 2017-2018 là 44.468 triệu đồng.

Phổ cập giáo dục được duy trì kết quả vững chắc.Toàn tỉnh có 184/184 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi. Huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1: 99,9%, trẻ 6 -11 tuổi đang học tiểu học: 98,7 %, năm học 2013-2014 có 76/237 trường với 54.995/98.048 đạt tỷ lệ 56,1%; hiện nay, toàn tỉnh có 193/235 trường với 66.634/98.058 học sinh, đạt 67,95% (so với năm học 2013-2014 tăng 11639 học sinh, tỷ lệ 11%); Trung học cơ sở: Tuyển sinh vào lớp 6: 99,4 %; số thanh thiếu niên 15-18 tuổi tốt nghiệp THCS đạt 90%; Trung học phổ thông: Số thanh thiếu niên từ 11-18 tuổi đã, đang học chương trình giáo dục phổ thông hoặc giáo dục thường xuyên cấp THPT hoặc giáo dục nghề nghiệp đạt 77%.

Năm 2013:Tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi 15-35 toàn tỉnh: 523.057/526.880 (99,27%); tháng 12/2017: Tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi 15-35 toàn tỉnh: 508.745/512.305 (99,31%).

b) Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cơ bản bảo đảm trung thực, khách quan, giảm áp lực cho xã hội

Xuất phát từ thực tiễn, đầu năm học 2014-2015, tổ chức khảo sát môn Toán, Ngữ văn của lớp 6 toàn tỉnh và lớp 10 đối với 6 huyện miền núi, hải đảo, nhằm phân loại chất lượng học sinh. Trên cơ sở đó, từng đơn vị xây dựng, triển khai thực hiện có hiệu quả các biện pháp phù hợp trong việc rèn luyện học sinh yếu, kém; bồi dưỡng học sinh khá, giỏi; kịp thời phối hợp và chỉ đạo thực hiện việc nâng cao chất lượng giáo dục trong toàn tỉnh.

5 năm qua, việc thực hiện đổi mới thi, kiểm tra đối với giáo dục phổ thông, nhất là việc đổi mới thi, công nhận tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng được triển khai mạnh mẽ, từng bước ổn định. Hoạt động kiểm tra, đánh giá theo hướng phối hợp sử dụng kết quả quá trình học tập với kết quả đánh giá cuối năm học được thực hiện ở tất cả các cấp học.

Cấp tiểu học chuyển sang đánh giá sự tiến bộ của học sinh theo hình thức động viên, khuyến khích sự cố gắng trong học tập và rèn luyện, kết hợp đánh giá bằng nhận xét và điểm số, kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh. Cấp THCS, THPT đánh giá theo hướng chú trọng cách học và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; sử dụng kết qủa đánh giá vào quá trình dạyhọc để động viên, tạo hứng thú học tập cho học sinh.

Đặc biệt, kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT trong 4 năm trở lại đây, từ việc ra đề, tổ chức thi, thi tuyển sinh vào lớp 10 trường THPT dân tộc nội trú tỉnh… được tổ chức nghiêm túc, chất lượng, hiệu quả, được dư luận xã hội đánh giá cao.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kiểm định chất lượng giáo dục, trong đó tự đánh giá là một công cụ, một khâu quan trọng trong hoạt động kiểm định chất lượng trường mầm non, phổ thông nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của nhà trường, chú trọng đến việc nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên về công tác tự đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục,đặc biệt trong xu thế hội nhập.Đến tháng 5/2018, toàn tỉnh có 99,6% (450/448) cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên hoàn thành tự đánh giá và 7,37% (33/450) cơ sở giáo dục đã đánh giá ngoài(trong đó, đạt cấp độ 1: 01, đạt cấp độ 2: 19, đạt cấp độ 3: 13).

c) Hệ thống giáo dục quốc dân đang được triển khai theo hướng mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập, bước đầu thực hiện chủ trương sắp xếp lại theo Nghị quyết số 19 của Trung ương khóa XII

Đến nay, hệ thống cơ sở giáo dục và đào tạo được phát triển cả về quy mô, số lượng và chất lượng. Giáo dục phổ thông đạt kết quả tốt cả về đại trà và mũi nhọn. Đã thực hiện và chuyển giao 13 Trung tâm GDNN – GDTX, 06 Trường THCS DTNT về UBND huyện quản lý theo phân cấp, qua theo dõi, hầu hết các Trường THCS – DTNT hoạt động có hiệu qủa, đáp ứng mục tiêu đào tạo nguồn cho 6 huyện miền núi của tỉnh. Hiện nay, Sở đang tiếp tục phối hợp UBND các huyện, thành phố tiến hành rà soát, sắp xếp mạng lưới trường lớp trên tinh thần gắn đào tạo nguồn nhân lực với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đạt được nhiều kết quả quan trọng. Ngày 25/7/2013, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có Quyết định số 1017/QĐ-UBND về việc thành lập Ban Chỉ đạo “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2013-2020” của tỉnh Quảng Ngãi; Ban chỉ đạo tỉnh đã liên tục được kiện toàn để bổ sung, thay thế để kịp thời thực hiện nhiệm vụ được giao. Hiện nay, 14/14 huyện, thành phố; 184/184 xã, phường, thị trấn đều đã kiện toàn Ban Chỉ đạo xây dựng xã hội học tập.

Song song với việc triển khai kế hoạch thực hiện Đề án “Xây dựng xã hội học tập” đến năm 2020, Sở đã tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, ban, ngành, UBND huyện, thành phố triển khai thực hiện Đề án phù hợp với điều kiện thực tế địa phương; đồng thời, phối hợp với Hội Khuyến học tỉnh tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời vào đầu tháng 10 hằng năm; các địa phương đều triển khai thực hiện tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời với nhiều hình thức; phong trào gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học, cộng đồng khuyến học đang phát triển, có tác động tích cực đến việc xây dựng xã hội học tập.

d) Công tác quản lý GDĐT được đổi mới, coi trọng quản lý chất lượng, bước đầu thực hiện tốt chủ trương tăng quyền tự chủ ở một số đơn vị, cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh

Công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo bước đầu được đổi mới theo hướng cải cách thủ tục hành chính; tăng cường phân cấp, tăng quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch của các cơ sở giáo dục; công tác thanh tra giáo dục được đổi mới theo hướng chuyển từ thanh tra chuyên môn sang thanh tra công tác quản lý, chỉ đạo, trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị, cơ sơ giáo dục, phối hợp giải quyết, công khai kịp thời kết quả sau thanh tra, kiểm tra.

Tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, hoạt động dạy và học, 100% trường học đã triển khai cơ sở dữ liệu ngành, tiến tới tin học hóa trong quản trị trường học. Đã triển khai chương trình kết nối mạng Inetrnet đến 100% trường học; lắp đặt điểm cầu chính và 14 điểm cầu trong tỉnh để phục vụ hội nghị, tập huấn chuyên môn, góp phần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của ngành.

 – Công tác quản trị tại các cơ sở giáo dục từng bước được đổi mới và triển khai tích cực; đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh. Đến nay, đại bộ phận các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông được thực hiện tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2016 và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015, góp phần từng bước chủ động đổi mới cơ chế để hoạt động ở trường học ngày càng hiệu quả.

đ) Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý được phát triển cả về số lượng và nâng cao trình độ đào tạo

Đến nay, toàn tỉnh có 15.746 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; so với năm 2013, toàn ngành giảm 3.232 người sau khi sắp xếp lại.

Trên cơ sở Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt Chi bộ, hằng năm, Sở GDĐT đã tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên nhà giáo trong toàn ngành kết hợp với Hội nghị trực báo 02 kỳ/năm học, hội nghị Tổng kết năm học, sinh hoạt chuyên đề, chuyên môn định kỳ,… trong đó thể hiện rõ nét về chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng trong các cơ sở giáo dục, lựa chọn, giới thiệu quần chúng ưu tú để chi bộ kết nạp đảng. Đến nay, toàn ngành có 6.924 đảng viên, trên tổng số 15.746 cán bộ, giáo viên, nhân viên, tỷ lệ 43%, có 488 chi bộ độc lập, 105 chi bộ ghép.

e) Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục

Trong những năm qua, với sự nỗ lực trong đổi mới, cải cách quản lý ngân sách, tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, đã đạt được những kết quả quan trọng, hoàn thành các chỉ tiêu đặt ra; triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Ngân sách Nhà nước đã quy định. Thực hiện công khai tất cả các khoản chi ngân sách và phân bổ cụ thể cho các đơn vị trực thuộc thụ hưởng ngân sách ngay từ đầu năm, đảm bảo công khai, công bằng dân chủ, khách quan để đơn vị chủ động triển khai một cách có hiệu quả.

Hàng năm, các đơn vị trong ngành dành một khoản kinh phí từ 5-10% dự toán chi sự nghiệp giáo dục để tiến hành việc tu sửa chống xuống cấp trường lớp, mua sắm, bổ sung đồ dùng dạy học và vật tư tiêu hao bảo đảm phục vụ dạy học theo quy định. Đồng thời, thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính; kịp thời điều chỉnh, bổ sung quy chế chi tiêu nội bộ để quản lí, sử dụng kinh phí tiết kiệm, có hiệu quả, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, chi thường xuyên tại các cơ sở giáo dục chi đáp ứng đủ chi lương chiếm 80-90% chi thường xuyên. Tổng chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo chiếm khoản từ 30% đến 40% tổng chi thường xuyên toàn tỉnh. Tỷ lệ chi đầu tư phát triển cho ngành giáo dục còn thấp, chiếm khoản 1% đến 10% trên tổng chi đầu tư phát triển của tỉnh. Dù đã được đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, song một số trường, lớp học đã xuống cấp, thiếu các điều kiện để tổ chức các hoạt động giáo dục, nhất là vùng núi, vùng dân tộc thiểu số.

Kết quả thực hiện vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2012 – 2016: Tổng mức đầu tư 26.028 triệu đồng, trong đó nguồn trái phiếu chính phủ được phân bổ theo Quyết định số 1588/QĐ-BKHĐT ngày 02/11/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: 24.705 triệu đồng, với tổng số phòng học đầu tư xây dựng 29 phòng. Lộ trình đến năm 2020, rà soát và đăng ký nhu cầu đầu tư xây dựng 161 phòng học và nhà công vụ cho giáo viên để bảo đảm đủ 01 lớp/phòng; phòng học xây dựng mới thay thế toàn bộ số phòng học bán kiên cố, phòng học tạm của các trường mầm non, phổ thông; xây dựng mới các hạng mục công trình thuộc khu phục vụ học tập, với tổng mức đầu tư 117.900 triệu đồng, trong đó nguồn trái phiếu chính phủ: 85.500 triệu đồng; ngân sách địa phương: 32.400 triệu đồng; đến thời điểm này lũy kế có 391 trường đạt chuẩn quốc gia.

Như vậy, so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thức XIX: “Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2020: Mầm non: 35%, Tiểu học: 70%, THCS: 75%, THPT: 60%”, là nhằm để nâng cao chất lượng giáo dục, tạo ra một môi trường giáo dục toàn diện cho học sinh, một trong những tiêu chí để đánh giá xây dựng nông thôn mới. Đến tháng 9/2018, có 363 trường đạt chuẩn quốc gia; đạt và vượt chỉ tiêu UBND tỉnh giao.

g) Chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học trong cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ nhà giáo, đặc biệt trong học sinh được đẩy mạnh và đã thu được một số kết quả quan trọng

Từ năm 2014 – 2018, Sở GDĐT đã phát động, tổ chức cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học, có 372 dự án thi cấp tỉnh, kết quả có 204 dự án đạt giải, tập trung vào các lĩnh vực: Điện-cơ khí; Cơ học; Vật lý và thiên văn; Kỹ thuật công nghệ; Lĩnh vực Khoa học môi trường; Khoa học động vật; Khoa học Thực vật;  Hóa học; Y Khoa và khoa học sức khỏe; Khoa học máy tính; Điện tử; Robot và máy thông minh; Hệ thống nhúng; Khoa học xã hội hành vi; số dự án khoa học kỹ thuật tham dự Cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học cấp tỉnh tăng đều hàng năm (năm 2014 có 42 dự án, năm 2015 có 91 dự án, năm 2016 có 94 dự án, năm 2017 có 96 dự án).

Bên cạnh đó, công tác tuyên dương – khen thưởng, động viên học sinh giỏi, xuất sắc, thủ khoa; giáo viên tiêu biểu được thực hiện kịp thời, có ý nghĩa trong việc động viên, khích lệ tinh thần dạy – học của thầy và trò. Tính từ năm 2014 – 2018, Sở GDĐT đã tham mưu UBND tỉnh khen thưởng 1.047 học sinh, 281 giáo viên, 17 tập thể, với số tiến 9.068.754.000 đồng.

h) Kết quả triển khai hội nhập, hợp tác trong giáo dục và đào tạo; giáo dục có yếu tố nước ngoài

Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 34 trung tâm ngoại ngữ – tin học ngoài công lập, 03 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng sống đang hoạt động với hàng nghìn học viên đang học.

Các cơ sở giáo dục mầm non tư thục phát triển về chất lượng, số lượng, từng bước đáp ứng nhu cầu  học tập của nhân dân tỉnh nhà.

Sở đã tham mưu UBND tỉnh ký kết hợp tác với Trường Đại học Tôn Đức Thắng – thành phố Hồ Chí Minh, Sở GDĐT thành phố Hồ Chí Minh về định hướng hội nhập cho học sinh THPT; xây dựng mô hình trường THPT theo hướng tự chủ; đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, giáo viên; làm đầu mối giới thiệu sinh viên của Trường đến thực tập tại tỉnh Quảng Ngãi; tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học học sinh THPT; tổ chức cho học sinh trãi nghiệm chương trình 24 giờ làm sinh viên, đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi… bước đầu góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh nhà.

Đồng thời, Sở đã phối hợp các cơ quan của tỉnh trong hợp tác quốc tế, đào tạo sinh viên Lào. Hằng năm, tiếp nhận hàng trăm lưu học sinh Lào đến Quảng Ngãi để học tập tại Trường Đại học Phạm Văn Đồng và Trường Đại học Tài chính Kế toán. Năm 2017 có Trường Cao đẳng Quảng Ngãi, năm 2018 có thêm Trường Cao đẳng Y tế Đặng Thuỳ Trâm có lưu học sinh Lào tham gia học tập; đến nay, toàn tỉnh có 250 sinh viên nước bạn Lào đang học tập và một số Tổ chức phi chính phủ có quan hệ, giúp đỡ cho giáo dục tỉnh nhà thông qua các dự án lớn như VVOB,…

Tóm lại, qua 5 năm thực hiện Nghị quyết 29, giáo dục và đào tạo Quảng Ngãi tiếp tục phát triển và ổn định; chuyển biến rõ nét nhất sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 29 là chuyển từ nền giáo dục tập trung trang bị kiến thức, sang tập trung dạy học, phát hiện năng lực và phẩm chất của học sinh.

2. Một số tồn tại, hạn chế

a) Công tác tuyên truyền, quán triệt về chương trình, nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo ở một số nơi chưa thật sự quan tâm đến công tác đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; xem đổi mới giáo dục là nhiệm vụ của ngành giáo dục.

b) Việc quy hoạch, sắp xếp mạng lưới trường lớp học ở một số nơi chưa phù hợp với thực tế; một số huyện còn thiếu phòng học, phòng chức năng, sân chơi, bãi tập, nhà vệ sinh chưa đạt yêu cầu, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa.

c) Tình trạng giáo viên còn thừa, thiếu cục bộ, nhất là đối với cấp mầm non, trung học cơ sở, gây bất cập cho ngành trong phân công, bố trí vị trí việc làm.

d) Một số cán bộ quản lý chưa năng động trong đổi mới quản lý theo hướng phân cấp, phân quyền cho cơ sở; một số giáo viên chưa bắt kịp yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học.

g) Việc sáp nhập các trung tâm giáo dục thường xuyên theo Thông tư số 39/2015/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV ngày 19/10/2015 của liên Bộ thiếu tính khoa học, chồng chéo trong quản lý, điều hành, hoạt động chưa hiệu quả; chất lượng, hiệu quả hoạt động của nhiều trung tâm học tập cộng đồng chưa đáp ứng được mục tiêu; công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông chưa đạt hiệu quả cao.

h) Nguồn lực đầu tư cho giáo dục chưa tương xứng và đáp ứng nhu cầu, nhiều trường được công nhận chuẩn quốc gia ở giai đoạn trước, một số tiêu chuẩn đã rớt chuẩn; nguồn vốn của địa phương không đáp ứng kịp thời trong công tác duy tu, bão dưỡng, chống xuống cấp; việc huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục đào tạo chưa cao.

i) Công tác quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập; cơ chế, chính sách về ngành giáo dục và đào tạo chưa nhất quán, chậm sửa đổi, bổ sung.

3. Một số giải pháp trọng tâm trong thời gian đến

Thực hiện Nghị quyết 29, Chương trình hành động 51 là quá trình đòi hỏi lâu dài với nhiều cơ chế, chính sách, sự quan tâm, chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương. Trước mắt, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 29, ngành giáo dục và đào tạo lựa chọn 5 nội dung cốt yếu, là điểm đột phá để giáo dục và đào tạo Quảng Ngãi cùng với cả nước tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả, phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của đội ngũnhà giáo, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của con em nhân dân tỉnh nhà và góp phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa:

Một là:Tiếp tục quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức về quan điểm của Đảng, Nhà nước; các chủ trương, chính sách về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện Nghị quyết số 29. Đặc biệt, mỗi địa phương cần phân định rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo trên địa bàn theo Nghị định số 127/2018/NĐ-CP ngày 21/9/2018 của Chính phủ, trong đó, gắn trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền và người đứng đầu để tạo cơ hội, điều kiện cho giáo dục phát triển ngày càng tốt hơn.

Hai là: Kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cấp; vì mọi nỗ lực đổi mới nào cũng bắt đầu từ đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo. Bởi vậy, đầu tư cho đội ngũ nhà giáo chính là đầu tư cho những cổ máy để chở những ý tưởng đổi mới giáo dục sớm được về đích, hiệu quả lâu dài.

Kịp thời ứng dụng mạnh mẽ về công nghệ thông tin, đổi mới nội dung, phương thức sinh hoạt chuyên môn, đi vào chiều sâu theo hướng để tự cập nhật kiến thức mới, phương thức tổ chức hoạt động học cho học sinh, cách giải quyết vấn đề, các tình huống thực tiễn. Xây dựng phương án, vị trí việc làm để đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, vững vàng về chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đổi mới chương trình giáo dục phổ thông gắn với thực hiện Nghị quyết số 29.

Ba là:Tiếp tục tham mưu Thường trực Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí để đảm bảo hằng năm ngân sách tỉnh chi cho giáo dục và đào tạo tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách; đủ kinh phí hoạt động chuyên môn và các hoạt động khác của ngành.

Sử dụng có hiệu quả mọi nguồn kinh phí, ưu tiến bố trí ngân sách để đảm bảo cơ sở vật chất cho các trường học có học sinh dân tộc thiểu số, xây dựng nhà bán trú cho học sinh phổ thông; từng bước hoàn thiện việc nâng cấp theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa đối với các trường phổ thông dân tộc nội trú.

Thực hiện xã hội hóa giáo dục tăng nguồn lực để đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Khuyến khích các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế tăng đầu tư kinh phí để xây dựng, phát triển hệ thống đào tạo tại các khu công nghiệp, các cơ sở giáo dục có uy tín trong và ngoài nước.Khuyến khích, động viên, giúp đỡ học sinh nghèo có điều kiện vươn lên trong học tập.Tôn vinh, khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc và đóng góp nổi bật cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà.

Bốn là: Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh các cấp học đạt trình độ theo quy định của Bộ GDĐT. Mua sắm, trang bị mới thiết bị dạy học, xây dựng phòng học tương tác và phòng học quan sát các trường phổ thông, tiếp tục triển khai dạy môn Toán và các môn tự nhiên bằng tiếng Anh tại Trường THPT chuyên Lê Khiết; theo lộ trình Đề án giai đoạn 2021 – 2025, tiếp tục triển khai dạy chương trình tiếng Anh 10 năm cho học sinh ở 3 cấp học (TH, THCS và THPT) trên địa bàn tỉnh.

Khuyến khích các thành phần xã hội khác nhau đầu tưu, xây dựng các trung tâm ngoại ngữ – tin học có chất lượng tại các địa phương trong tỉnh để tạo cơ hội tốt hơn cho mọi người được học và nâng dần trình độ hiểu biết sử dụng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, mở ra cơ hội tiếp cận với khoa học kỹ thuật và thế giới.

Năm là: Lựa chọn nội dung, chủ động tham mưu ký kết thỏa thuận hợp tác với các đơn vị, cơ sở giáo dục có uy tín trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ, kinh nghiệm quản trị trường học, nghiên cứu Khoa học kỹ thuật và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục – đào tạo; kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia; trao đổi kinh nghiệm, thông tin về công tác giáo dục và quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng dạy và học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay./.

                                                                   Văn phòng Sở